VIỆN NGHIÊN CỨU & BẢO TỒN VĂN HÓA


NÚI DẰNG - SÔNG QUẾ - CHÙA UYÊN TRỪNG VÀ NGUYỄN DU

Ngày đăng: 22/05/2024Xem:

655

Phạm Quang Ái

    1. Nghi Xuân, quê hương thi hào Nguyễn Du là một vùng quê có một bề dày văn hóa hàng ngàn năm, tiềm tàng nhiều di tích vật thể và phi vật thể có giá trị văn hóa – lịch sử lớn lao, nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp. Phần lớn địa dư vùng đất này ở phía Đông Bắc núi Hồng Lĩnh, có địa thế hẹp, hình tam giác, sau lưng là núi Hồng, bên cạnh là sông Lam và trước mặt là biển Đan Nhai (biển Đông, phần tiếp giáp với đất Nghi Xuân). Một phần nhỏ đất Nghi Xuân, là mảnh đất bồi của sông Lam nép sát chân phía tây núi Hồng, xưa là đất xã Tam Đăng Hạ (nay là xã Xuân Hồng). Sông Lam chảy đến đây thì dòng chảy đã được hợp lưu bởi một nhánh sông ở miền tây Nghệ An đổ xuống, lưu lượng nước tăng lên nhiều nên khúc sông này rất rộng, lại gặp núi Uyên Trừng (thuộc chòm núi Ngũ Mã), phía tây dãy Hồng Lĩnh, chắn ngang nên về mùa lũ nước đổ về tạo ra một vũng xoáy lớn, vì thế khúc sông này vừa sâu vừa là chổ rộng nhất của sông Lam. Đây cũng là nơi thuyền bè (thuyền buôn, bè gỗ nứa) tấp nập vào ra tạo nên một bến sông có tên Nôm là bến Dằng, ngọn núi nằm trên bến sông này gọi là núi Dằng. Đoạn đường thiên lý bắc – nam chạy qua đây, men theo mép núi và bờ sông Lam, cách bến Dằng một đoạn khoảng 300m, có một chiếc cầu để nước từ vùng đồng trũng chân núi chảy ra sông, gọi là cầu Dằng. Khi chính quyền phong kiến đặt tên chữ (Hán) cho các địa danh, đã căn cứ vào biến âm và thực tế cảnh quan để đặt lại tên cho các địa danh Nôm này là Uyên Trừng. Chữ Dằng do biến âm đọc thành Trằng, lại căn cứ vào độ trong của nước khúc sông này (khúc sông này rộng và sâu, lúc không mưa lũ nước rất trong)  nên phiên thành âm Hán Việt là Trừng 澂 (nghĩa là trong), Uyên Trừng 淵澂 (vực sâu và trong). 

Theo sách Đồng Khánh dư địa chí, trên núi Uyên Trừng (Rú Dằng), có một ngôi chùa cổ gọi là chùa Ba Tạng (Chính tên là Uyên Trừng Hoa tạng tự 淵澂華藏寺, đến đầu đời vua Thiệu Trị kiêng húy, đổi là chùa Ba Tạng). Vì chùa dựng ở lưng núi Uyên Trừng nên cũng có tên chùa Uyên Trừng (Chùa Dằng). Các tài liệu như Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (tác giả Lê Quang Định, Phan Đăng dịch ra Việt ngữ, NXB Thuận Hóa, 2005),  Đại Nam nhất thống chí (Đại Nam nhất thống chí, Phạm Trọng Điềm dịch và Đào Duy Anh hiệu đính, T2, NXB Thuận Hóa, 2006), Đồng khánh địa dư chí (Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, Phan Văn Các, Lê Việt Nga, Dương Thị The- NXB Thế giới, 2003; tr.1267), Địa dư tỉnh Hà Tĩnh (Tài liệu đánh máy do Đốc học Trần Kinh biên soạn năm 1930)… đều khẳng định đây là “chùa cổ” nhưng không cho biết chùa được xây dựng vào năm nào. Nhưng theo các tư liệu chúng tôi thu thập được cũng như ý kiến của một số nhà khảo cổ học khi xem xét gạch được đào lên từ móng chùa thì có thể chùa Uyên Trừng được lập lên từ đời Lý (và có thể còn sớm hơn). Qua nhiều lần trùng tu, đến đời Nguyễn, chùa này trở thành một thiền viện khá nguy nga. Rất tiếc là từ sau năm 1945 chùa bị bỏ hoang phế, rồi qua hai cuộc kháng chiến, bị triệt phá hoàn toàn. Bây giờ nền chùa vẫn còn nhưng một phần khuôn viên thuộc phạm vi nhà tăng ở đã là đất thổ cư của một số hộ dân trong thôn. Sau chùa, hiện tại còn 3 ngôi mộ cổ của các thiền sư từng trụ trì ở đây đã được người dân trong vùng cải táng và đã xây tháp đặt tượng Quan Thế âm bồ tát để thờ cúng.
Các tài liệu nói trên đều cho biết: Cảnh trí của chùa rất đẹp, phía trước chùa là sông Lam, núi Hồng bao quanh ba mặt, phong cảnh thanh u, tịch mịch. Sách Đại Nam nhất thống chí chép một cách ngắn gọn: “… phía trước chùa có khe, có cầu, có am viện, có ao đá do nước suối ở núi chảy vào…” (Tldd, tr.222). Sách Đồng Khánh dư địa chí miêu tả khá sinh động về chùa: “...Trước chùa có gác Tam quan, dưới gác Tam quan có một dòng khe. Đứng trên gác Tam quan này nhìn ra thấy núi non trùng điệp che kín ba phía. Núi Ngũ Mã tiếp liền với các ngọn núi khác ở phía đông nam, núi Yên Lạc quanh co chạy lên phía đông bắc, sông lam ở về phía Tây Nam. Quả là một nơi danh lam thắng cảnh ở địa phương này” (Tldd, tr. 1267); sách Nghi Xuân huyện thống chí (Quyển hạ) chép kỹ hơn: “Đằng trước chùa có Rú Các, dưới có khe, qua khe có cầu, cầu cách chùa hơn trăm tầm. Bên chùa nơi nhà sư ở, có ao đá, nước từ núi bắn ra như vọt, bọt trắng tung ra, dòng trong chảy róc rách, xưa nay du khách đã ngâm vịnh chùa này nhiều. Thật là một nơi Già lam bậc nhất”(Tài liệu chữ Hán chép tay, Thái Kim Đỉnh dịch).
Giờ đây tuy chùa đã là phế tích nhưng đứng trên nền chùa nhìn ra, quang cảnh quả thật tuyệt vời. Sách Nghi Xuân địa chí do Đông Hồ Lê Văn Diễn biên soạn năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) chép: “Chùa Hoa Tạng trên núi Uyên Trừng, xã Tam Đăng Hạ. Cảnh trí thật đẹp, là một trong tám cảnh đẹp của huyện Nghi Xuân” (Bản dịch của Võ Hồng Huy và Trần Sĩ Tịnh, UBND huyện Nghi Xuân xuất bản, 2001; tr. 102). Trong sách Thơ Bùi Dương Lịch do Võ Hồng Huy sưu tầm, phiên dịch và biên soạn (Sở Văn hóa – Thông tin Hà Tĩnh xuất bản năm 1996), Hoàng giáp Bùi Dương Lịch (1757 – 1828) có hẳn một chùm 8 bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú vịnh Nghi Xuân bát cảnh gồm Hồng Sơn liệt chướng (Núi Hồng thành dựng), Đan Nhai quy phàm (Cửa Hội buồm về), Song Ngư hý thủy (Đôi cá giỡn nước), Cô Độc lâm lưu lưu (Con nghé lội dòng), Giang Đình cổ độ (Bến cũ Giang Đình), Quần Mộc bình sa (Bãi cát bằng Quần Mộc), Uyên Trừng danh tự (Chùa đẹp Uyên Trừng) và Hoa Phẩm thắng triền (Chợ đẹp Hoa Phẩm). Trong bài Uyên Trừng danh tự, Bùi Hoàng giáp đã mô tả cảnh trí chùa Uyên Trừng như sau:
Phiên âm:
Sơn thế đông hồi khống cự xuyên,
Đương yêu nhất sạc bổng hồng lien.
Địa xưng danh thắng đa du khách,
Tự lập hồng hoang bất kỷ niên,
Quá tục thế đồ Khu Độc lĩnh,
Từng ngưng thiền kính dưỡng Long uyên.
Đăng lâm hà tất vấn nhân quả,
Cưu thập cưu phong trung nhất thiên.
Dịch nghĩa:
Thế núi quay về đông để khống chế sông lớn,
Lưng chừng dãy núi, một ngọn nổi lên như búp sen hồng.
Vùng đất có tiếng là đẹp nên nhiều du khách tới thăm,
Ngôi chùa cổ kính chẳng rõ có từ năm nào.
Chắp nối đường đời vượt qua núi Khu Độc,
Lấp lánh tấm gương soi chùa sẵn có Vực Rồng.
Lên cao chẳng cần phải hỏi chuyện nhân quả,
Giữa 99 ngọn núi thì đây là một bầu trời riêng.
Như vậy, qua bài thơ này của Bùi Dương Lịch, chúng ta biết thêm một danh xưng khác của Quế Giang (sông Đằng) là Long Uyên (Vực Rồng).
3. Theo sách Thiền uyển tập anh, (Bản Việt dịch của Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga, NXB Văn học 1990) và sách Le Bouddhisme en Annam – des origines au XIII e siècle (Phật giáo ở Việt Nam – từ nguồn gốc đến thế kỷ XIII ) của Trần Văn Giáp (Bản Việt dịch của Tuệ Sĩ, Ban Tu thư Đại học Vạn Hạnh xuất bản năm 1968) thì Thiền sư Hiện Quang (?-1221) chính tên là Lê Thuần, quê Thăng Long, thuộc thế hệ thứ 14, Thiền phái Vô Ngôn Thông, 11 tuổi được Thiền sư Thường Chiếu (?-1203) ở chùa Lục Tổ thu nạp làm đệ tử, chưa đầy 10 năm đã thông giỏi kinh điển tam giáo nhưng chưa kịp suy cứu yếu chỉ Thiền tông thì Thiền sư Thường Chiếu mất. Ông bèn vân du đến núi Uyên Trừng, phủ Nghệ An tham bái Thiền sư Pháp Giới, trụ trì tại chùa Hoa Tạng, và đắc đạo ở đây. Về sau ông lên núi Tu Sơn dựng một thảo am, rồi lại lui về ẩn ở núi Yên Tử, và tịch năm Kiến Gia thứ 11 (1221) đời Lý Huệ Tông.
Như vậy, từ đời Lý, chùa Uyên Trừng – chùa Dằng đã là ngôi chùa lớn và có vị trụ trì, Thiền sư Pháp Giới là thầy của Thiền sư Hiện Quang. Trước và sau thiền sư Pháp Giới chắc chắn còn có rất nhiều nhà sư tu hành đắc đạo ở đây. Để có một truyền thống như vậy, ít ra chùa này phải có cơ sở từ hàng trăm, hàng mấy trăm năm trước.
3. Đến thời kỳ cuối Lê đầu Nguyễn, qua câu văn trong bài Sinh tế trường lưu nhị nữ văn (Bài văn tế này một thời được cho là của Nguyễn Du, nhưng gần đây chúng tôi đã có bài viết bác bỏ(1)) “Lên chùa Dằng toan tu với sư Viên...”, ta biết được ở chùa Uyên Trừng từng có vị trụ trì là sư Viên (Viên Giác hay Viên Chiếu ?)…Tuy rất khó để tin rằng bài Sinh tế trường lưu nhị nữ văn là của Nguyễn Du, nhưng trong hành trạng cuộc đời ông cũng như trong thơ văn của ông, Nguyễn Du là một người rất gắn bó với Phật giáo. Theo gia phả dòng họ và truyền ngôn trong dòng họ, sau chặng “thập tải phong trần” (mười năm gió bụi) lênh đênh, khốn đốn nơi đất khách quê người (1786-1796), thi hào về cõng đứa con côi với người vợ cả họ Đoàn về quê cha đất tổ để sinh sống. Nhưng phủ đệ họ Nguyễn Tiên Điền đã bị quân Tây Sơn đốt phá khi Nguyễn Quýnh, người anh cùng cha khác mẹ của ông, âm mưu chiêu tập nghĩa sĩ nổi dậy chống Tây Sơn nên bị bắt giết. Ông bơ vơ không nơi nương tựa đã đến vùng đất dưới chân núi Uyên Trừng dựng căn nhà tạm để sinh sống. Vì thế, trong thơ chữ Hán của ông nhiều lần xuất hiện danh từ Quế Giang, một danh xưng của khúc sông Lam chảy qua chân núi Uyên Trừng mà chúng tôi đã đề cập ở phần trên. 
Trong bài Mi trung mạn hứng (Cảm hứng lan man trong tù), sau khi bày tỏ nổi niềm bi phẩn trước cảnh ngộ “thập tuần lao ngục tử sinh tâm” (mười tuần trong ngục lòng nghĩ đến việc sống chết), nhà thơ nghẹn ngào:
          Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ,
          Hồng Sơn sơn hạ, Quế Giang thâm.
          (Ta có tấc lòng chẳng biết nói cùng ai,
           Dưới chân núi Hông, sông Quế sâu)
Bài thơ Mi trung mạn hứng  được các nhà nghiên cứu cho là Nguyễn Du viết khi bị quân Tây Sơn bắt giam vì có ý định vào Gia Định giúp Nguyễn Ánh (theo Gia phả). Trong bài Tạp thi (bài số 1), Nguyễn Du còn cho ta biết rõ hơn là ở bến sông Quế dưới chân núi Hồng này là nơi ông vui chơi giải trí và nghỉ dưỡng khi ốm đau bệnh tật:
           Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ,
           Bạch vân ngọa bênh Quế Giang biên
           (Dắt chó vàng tìm thú vui dưới núi Hồng Lĩnh,
           Dưới mây trắng nằm dưỡng bệnh bên bờ sông Quế)
Hơn thế, trong bài thơ Ngọa bệnh (bài số 1), ông còn cho ta biết ông là nhiều bệnh, luôn luôn ở trạng thái đau yếu, mệt mỏi, có khi phải nằm bẹp ba tháng liền ở túp nhà tranh bên bờ Quế Giang:
Đa bệnh, đa sầu khí bất thư,
      Thập tuần khốn ngọa Quế giang cư
      (Bệnh lắm sầu nhiều thần khí không được thư thái,
          Mười tuần nằm co trong nhà bên sông Quế)
          Thậm chí, trong bài thơ Thu dạ, nhà thơ còn cho biết ông đã từng có lúc bị ốm đau nằm suốt năm ở bến sông này:                :
            Cùng niên ngoạ bệnh Quế Giang tân
            (Hết năm rồi vẫn đau ốm nằm ở bến Quế Giang)
Như vậy, Nguyễn Du không chỉ gắn với núi Dằng, sông Quế như là một cư dân đã từng nhiều năm trú ngụ ở địa phận này và các địa danh này đã để lại dấu ấn sâu sắc trong thơ ông mà với tư cách là một Phật tử thuộc diện “cư Nho mộ Thích”, ông còn bó với chùa Uyên Trừng (chùa Dằng) như là một cư sĩ Phật giáo. Cũng theo lời truyền trong dòng họ và người dân địa phương qua các đời, trong những năm tháng dài đau ốm quặt quẹo, ông đã được các nhà sư ở chùa Dằng chăm sóc thuốc men, cơm cháo nên đã hồi phục sức khỏe.
Trong các tác phẩm văn chương còn lại của Nguyễn Du, từ thơ chữ Hán đến các áng văn Nôm, luôn thấm đẫm một tinh thần nhân đạo sâu sắc, rộng lớn của Phật giáo, và áng thiên cổ bi văn Văn tế thập loại chúng sinh là tác phẩm tiêu biểu nhất. Gs Hoàng Xuân Hãn trong bài khảo cứu Lễ Vu Lan với văn tế cô hồn (đăng Tạp chí Văn học số 2, HN, 1977) đã cho chúng ta biết là bài Văn tế do Gs Lê Thước sưu tầm tại chùa Diệc (nay thuộc Thành phố Vinh) và in kèm sách Truyện cụ Nguyễn Du (Nxb Mạc Đình Tư, HN, 1924). Học giả, nhà văn Trần Thanh Mại trong một bài diễn thuyết về bài Văn tế này (đăng trên Đông Pháp thời báo năm 1928) lại cho biết thêm rằng Nguyễn Du đã trước tác bài văn tế này trong một mùa dịch khủng khiếp khiến hàng triệu người chết. Các sư tăng tại các chùa đã lập đàn cầu siêu cho những nạn dân bị chết dịch và Nguyễn Du đã viết bài Văn tế cho nhà chùa tụng trong một lễ cầu siêu(2). Như thế, rất có thể, bài Văn tế đã được Nguyễn Du sáng tác trong giai đoạn ông đang lánh ẩn ở quê cha (1786-1796). Vì đây là giai đoạn giặc giã, chiến tranh liên miên, dân tình vô cùng nghèo đói, khốn khổ. Và đó cũng là điều kiện thuận lợi cho các đại dịch hoành hành. Chùa Uyên Trừng là ngôi chùa cổ, có quy mô lớn nhất vùng, lại là nơi tu tập của rất nhiều thế hệ nhà sư danh tiếng nên những lễ cầu siêu lớn tất phải được tổ chức ở đây. Vả lại, văn bản bài Văn tế là một bản chữ Nôm chép tay, lại được tìm thấy ở một ngôi chùa trong vùng (bản kính khoảng 5-6 km). Do đó, chúng ta có thể tin rằng, chùa Dằng, một ngôi cổ tự nằm ở vị trí mà Nguyễn Du có nhiều năm tháng gắn bó với một sự tri ân sâu sắc, là nơi mà thi hào đã viết nên khúc ngâm thê lương về số phận con người trong giai đoạn suy tàn của xã hội phong kiến đầy chiến tranh, đói khổ và dịch bệnh.
4. Một ngôi cổ tự có lịch sử hàng ngàn năm tồn tại, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo nước ta cũng như lịch sử, văn hóa của vùng đất này, lại có khá nhiều bằng chứng cho thấy ngôi chùa có liên quan đến thi hào dân tộc, nhưng tiếc thay, đã 75 năm qua, di tích quý giá này đã trở thành phế tích. Trên cái nền cảnh quan còn gần được như xưa, chúng ta mong rằng một ngày gần đây, phế tích này sẽ được phục dựng lại để làm thành một địa chỉ văn hóa quan trọng gắn với di sản văn hóa của Nguyễn Du và họ Nguyễn Tiên Điền, làm phong phú thêm diện mạo văn hoá của vùng đất “địa linh nhân kiệt” Nghi Xuân.
 

Comments on social media
THẤM NHUẦN LÝ VÀ ĐẠO TRONG BẢO ĐẢM TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI VÌ MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

THẤM NHUẦN LÝ VÀ ĐẠO TRONG BẢO ĐẢM TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI VÌ MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Mỗi dân tộc, có một nền tảng đạo lý căn bản của sự tồn tại. Chính nền tảng đạo lý đó tạo ra bản sắc văn hóa của dân tộc. Cái Đạo dân tộc thường xuyên thấm nhuần sâu sắc trong cái Lý căn bản của hệ thống pháp luật. Cả hai phương diện Đạo và Lý đó đều phải được xử lý sâu sắc và nhuần nhuyễn trong mọi vấn đề của TTATXH để có một xã hội ổn định và phát triển..